Shemaphore

Tháng Tám 16, 2010 lúc 7:51 sáng | Posted in Chuyên môn tổng hợp | Để lại bình luận

Semaphore hay tạm gọi là truyền tin thị giác (optical telegraph) là một
công cụ dùng để truyền tin qua phương tiện tín hiệu nhìn thấy được với
tháp cao cùng với các phiến quay quanh trục (pivoting blades) hay các
cánh quạt (paddles), các cửa chớp (shutters) trong một hình thể ma trận
(matrix), hoặc là các cờ cầm tay…Thông tin được mã hóa theo vị trí của
các thành phần cơ học; nó được đọc khi các phiến hoặc cờ nằm ở một vị
trí đã ấn định.

Trong
thời hiện đại, nó thường được ám chỉ đến một hệ thống truyền tín hiệu
bằng hai lá cờ cầm tay. Hệ thống semaphore dùng hai cán cờ ngắn có cờ
hình vuông là một trong các phần cơ bản của kỹ thuật Hướng đạo.

Những hình thức tín hiệu thị giác khác còn có cờ hiệu hàng hải, đèn hiệu, và gương hiệu.

Semaphore
ra đời trước điện tín. Chúng nhanh hơn người đưa tin đi bằng ngựa trên
một quãng đường xa, nhưng phí tổn nhiều và ít được bảo mật hơn điện tín
mà thay thế nó sau đó. Khoảng cách mà một tín hiệu thị giác có thể
truyền đi bị hạn chế bởi địa hình và thời tiết, vì vậy đa số các phương
tiện truyền tín hiệu thị giác trong thực tế thường sử dụng nhiều trạm
tiếp vận để nối liên lạc những khoảng cách xa hơn.

Hệ thống
semaphore mới hơn dùng hai cán cờ ngắn có cờ hình vuông. Một người cầm
cờ giữ chúng ở các vị trí khác nhau để truyền đi các mẫu tự và các số.
Người cầm cờ giữ mỗi cờ trong mỗi tay, và đưa mỗi cánh tay của mình ở
một trong 7 vị trí, các vị trí kế tiếp nhau cách nhau một góc 45 độ. Trừ
khi ở vị trí nghỉ, hai cờ không thể chồng lên nhau. Màu cờ thì khác
nhau dựa vào tín hiệu được truyền đi ở trên biển hay trên bờ. Màu đỏ và
vàng cho cờ dùng ở biển trong khi màu trắng và xanh dương được dùng trên
bờ.

Các mẫu tự Semaphore sau đây được biểu thị như bạn đang đối diện với người cầm cờ:

* Các bạn có thể chia làm 6 vòng học cho dể hơn :


Vòng 1 chỉ đánh một cánh tay (Từ A -> G )


Vòng 2 tay trụ đặt ở vị trí chữ A ( H I K L M N )


Vòng 3 tay trụ đặt ở vị trí chữ B ( O P Q R S )


Vòng 4 tay trụ đặt ở vị trí chữ C ( T U Y )


Vòng 5 tay trụ đặt ở vị trí chữ D ( J V )


Vòng 6 tay trụ đặt ở vị trí chữ E ( W X )

Cách đánh bảng tin bằng Semaphore ( qui ước trong CLB ) :

– Bắt đầu đánh bằng cách để cờ ngang thắt lưng và đánh 2 vòng số 8 nằm ngang cùng 1 lúc

Khi đánh các bạn đánh liên tục không gián đoạn giữa các chữ cái , khi
đánh xong một từ bạn bắt chụm cờ ngang thắt lưng và nghỉ khoảng 2 -3
giây và(Nghỉ / Cách khoảng )
– Khi lỡ tay đánh sai bản tin bạn làm như con bướm ý
để thông báo là mình đánh sai . Tiếp tục , nếu sai 1 chữ cái bạn đánh 3
chữ E liên tục sau đó đáng lại chữ cái vừa sai . Nếu bạn sai trầm trọng
quá rồi thì đánh chữ ngược với L
để xóa toàn bộ nội dung bản tin vừa đánh ( lúc này người dịch không
nhăn mặt làu bàu mới sợ , bởi vậy cố gắng đừng đánh sai dùm cái nha ^^!)

Để thông báo mình sẽ dùng số trong bản tin ( dùng để rút ngắn bảng tin .
Người nào muốn làm khó người dịch còn "non" thì cứ xài chiêu này ) bạn
đánh ngược với chữ T
nghỉ
2 – 3 giây cho ng ta chuẩn bị tinh thần , qui ước chung : A=1 ; B=2
……. . Sau khi người dịch bên dưới ngơ ngác vì không biết bạn đang
đánh chữ gì mà ngộ như vậy , thừa thắng xong lên đánh tiếp chữ đánh số
như trên để kết thúc rồi nghỉ 2 – 3 giây sau đó tiếp tục bản tin binh
thường .
– Khi hoàn thành bản tin bạn làm đánh 2 vòng số 8 nằm ngang như bắt đầu .

* Lưu y’ :

– Vì mục đích quan trọng của Semaphore là truyền tin nên :
+ Người phát tin :
Khi đánh các chữ trong cùng một từ thì không cần hạ tay xuống , nhưng
khi đánh xong 1 từ phải chụm tay lại phía trước . Tùy trình độ của người
nhận mà người phát điều chỉnh tốc độ của mình lại , tránh trường hợp
khi đánh xong ở dưới kêu mình đánh lại hay hỏi một câu ngây thơ :" Bạn
múa gì mà đẹp quá vậy ? " ( pó tay =.=! ) . Còn muốn thể hiện đẳng cấp
về tốc độ thì đợi khi nào ra ngoài nha , nhưng mà nhớ là mình đánh được
thì phải dịch được đó không có chính là mình đặt câu hỏi ngây thơ kia đó
.
+ Người nhận :
vì mình lúc nào cũng trong thế bị động và dể dàng bị người phát " chơi
xấu " (đừng gây thù chuốc oán là không có đâu ^^! ) làm rối bảng tin
xong mình xem người ta múa trên đó luôn , bởi vậy ngoài bảng Semaphore
phải học nằm lòng trên bạn cần trang bị thêm một số " đồ chơi " như sau :
– Dùng các nét gạch ( tốc kí ) để ghi lại ví trí tay của người phát hết 1 từ thì gạch 1 khoảng để báo hiệu .

Chú ý thật kĩ các kí hiệu đặc biệt như : đánh số , sai 1 chữ , xóa bản
tin ( ngươi ta xoá rồi mình ngồi dịch tỉnh queo mới ghê ^^!). Đặt biệt
là đánh số vì rất dễ nhầm với chữ T và U ( nếu tay người đánh không
chuẫn ) . Bạn nên hoc thuộc luôn số thứ tự của chữ cái vì sau này còn sử
dụng rất nhiều nhất là trong mật thư . Ai thấy khó thì thử cách này xem
: Mình có tổng cộng 25 chữ cái ( bỏ Z vì ít xài ) phải không nà ? Bây
giờ ta chia ra làm 5 mốc chính với các chữ ứng với số thứ tự luôn E=5 , J
=10 , O=15 , T=20 , Y=25 . Ví dụ : khi ta có chữ S các bạn dòl lại
trong các móc nhớ là S->T đúng không nào ? mà T=20 -> S=19 mau hơn
học thuộc lòng mà đôi khi còn quên nữa .

Dấu đường

Tháng Mười 27, 2009 lúc 10:41 sáng | Posted in Chuyên môn tổng hợp | Để lại bình luận
1/ Dấu đường:
Là ký hiệu, hình vẽ qui ước một ký hiệu thông tin trên đường đi.

2/ Vai trò ý nghĩa:
-Cùng với Morse, Sémaphore, mật thư thì dấu đường là phương tiện góp
phần xây dựng, tổ chức hoạt động “Trò chơi lớn” ở các cuộc trại, nó làm
tăng sự hấp dẫn, dí dỏm, vui tươi.
-Dấu đường giúp người tham gia trò chơi phát triển trí nhớ, óc quan sát, tư duy nhận xét phân tích.

3/ Hướng dẫn sử dụng:
a)Cách đặt dấu:
-Dấu đường gợi ý cho người chơi đi đúng hướng, đến đúng nơi qui định vì vậy người đặt dấu phải thực hiện tốt một số yêu cầu:
+Có sự chuẩn bị trước khi đặt dấu: nên tính toán trên sơ đồ trước và chuẩn bị vật dụng.
-Dấu đường được vẽ bằng phấn, than, gạch, … hoặc xếp bằng nhánh cây,
sỏi, đá, … Nếu có thể, chúng ta vẽ lên giấy bìa cứng, sau khi chơi,
thu lại để dùng lần khác.
+Dấu đường đặt bên phải lối đi, trên những vật cố định, ngang tầm mắt hoặc trên mặt đường, nơi đễ nhìn thấy.
+Không để mất dấu và dấu phải được vẽ đúng.
+Nên có ký hiệu riêng cho đơn vị mình khi đặt dấu đường.
+Khoảng cách giữa 2 dấu đường không được quá 50m
+Kích thước của dấu đường:
+ Dài nhất: 30cm
+ Rộng nhất: 10cm
b)Cách nhận dấu:
-Tìm dấu trên đường đi, bên phía tay phải và từ mặt đất lên tầm cao ngang mắt.
-Ghi nhận lại tất cả dấu nhận được theo thứ tự và làm theo tính chất biểu thị thông tin của dấu đó.

DẤU ĐƯỜNG THEO QUY ƯỚC QUỐC TẾ


DẤU ĐƯỜNG THIÊN NHIÊN




   -Dấu đường thiên nhiên được qui định theo sự thỏa thuận của 2 người
truyền tín hiệu cho nhau. Mỗi nơi qui định mỗi khác, chưa có sự thống
nhất trẹn toàn thế giới.
   -Trong lịch sử Việt Nam, có kể lại câu
chuyện có thật về Mỹ Châu và Trọng Thủy, họ đã dùng lông ngỗng để làm
dấu đường tìm thấy nhau.
   -Ở một trình độ nào đó, người đi trước chỉ
cần; treo một mảnh vải nhỏ, bẽ gãy 1 cành cây con, xếp đứng 1 cục đá,
hoặc cắm 1 que củi xuống đất … là người đi sau có thể hiểu được người
đi trước muốn nói gì.
   -Đừng hiểu về dấu đường 1 cách cứng ngắt theo
khuôn mẫu cố định nào đó. Nếu chỉ có 2 người với nhau ở trong rừng, để
tránh sự phát hiện của địch, ta lại càng phải dùng những ám hiệu riêng
mà chỉ có 2 người bí mật biết với nhau. Như thế mới thực sự đảm bảo an
toàn cho cả 2.
   -Trong trò chơi lớn dành cho trẻ em, chúng ta nên
thường sử dụng những dấu đường viết bằng ký hiệu đã được các đội nhóm
sinh hoạt trên toàn thế giới thống nhất

  Chú ý:

   – Dấu đi đường không nhằm mục đích dánh đố trại sinh, mà phải giúp trại sinh di chuyển đến đích nhanh chóng và an toàn.
   –
Không được chế tác tùy tiện. Không có dấu đi đường bắt buộc ta là phải:
Đi theo hướng này, đi nhanh lên, đi chậm lại mà chỉ có dấu đường chứa
hàm ý yêu cầu : di chuyển theo lối này, di chuyển nhanh, di chuyển
chậm. Từ đó người chơi có quyền chọn hình thức di chuyển thích ứng với
yêu cầu (Bò, chạy, đi,…)

Trại và một số hình thức trại

Tháng Mười 26, 2009 lúc 12:00 sáng | Posted in Trại & đời sống trại. | Để lại bình luận

Trại là một thế giới thần tiên của những thanh thiếu niên yêu thiên
nhiên và ham hoạt động và là một yếu tố không thể thiếu của phong trào
Hướng Đạo chúng ta. Ở đó các em thấy mình gần gũi và hòa quyện với
thiên nhiên, thấy tâm hồn mình phóng khoáng và cao thượng hơn.


Trại cũng là một dịp để các em thoát ra khỏi sự ồn ào náo nhiệt của
thành phố, sự đơn điệu buồn tẻ của các cao ốc và những bức tường.

Trong chương trình sinh hoạt trại, các em có dịp học hỏi và thực hành
các kỹ năng trong đời sống thường ngày, trổ tài tháo vát, phát huy sáng
kiến để tạo tiện nghi tối đa cho đời sống trại. Khi cùng làm việc với
nhau, các em sẽ gây dựng một tình đồng đội, thân ái, vui tươi, đoàn
kết…

Ai
chưa một lần ngủ đêm dưới lều để nghe côn trùng hòa nhạc, chưa một lần
tắm nắng đến cháy da bên bờ biển, chưa một lần bó gối nhìn cơn mưa ở
giữa rừng hay cuống cuồng đắp bờ chắn nước đang lăm le tràn vào lều…
thì coi như mình mất đi một phần đẹp của tuổi trẻ.

==>Có nhiều hình thức trại tùy theo điều kiện và nhu cầu.

1. Trại cuối tuần.




_ Đây là một hình thức trại cho một nhóm nhỏ người do một Tuần trưởng
tổ chức (được sự đồng ý của Kha Trưởng) trong vòng 24 giờ.

_ Tuy là trại nhỏ, nhưng cũng phải có chương trình rõ ràng, đầy đủ.
Phải cắm trại cho ra cắm trại. Không nên dùng thực phẩm chế biến sẵn mà
phải nấu nướng đàng hoàng (đây cũng là một phần của sự huấn luyện).

2. Trại kỹ năng.

_ Trong những lần sinh hoạt thường xuyên, chúng ta không có đủ thời giờ
và điều kiện để huấn luyện một số kỹ năng chuyên môn đặc biệt. Trại kỹ
năng được tổ chức để san lấp lỗ hổng đó.

_ Trại kỹ năng là dịp để cho các trại sinh ôn tập và huấn luyện một số
kỹ năng đòi hỏi phải có không gian và địa điểm thoáng rộng, thiên nhiên
thích hợp như: tìm phương hướng, tìm sao,ước đạc, quan sát dấu vết, thủ
công trại, truyền tin, cứu thương.

_ Nếu có nhiều đơn vị cùng tham gia thì trại sinh sẽ có tinh thần thi đua hào hứng hơn và kết quả sẽ tốt đẹp hơn.

3. Trại bay.


 

_ Thường dùng trong các cuộc thám du khảo sát… Như tên gọi của nó,
"Trại bay" không cố định như "Trại đứng" mà nó luôn theo bước chân của
Tuần thám du. Cảnh vật luôn luôn thay đổi sẽ gây nhiều thú vị cho trại
sinh. Muốn trại bay có kết quả, ta nên nhớ:

+ Tổ chức vào lúc thời tiết tốt.
+ Trang bị gọn nhẹ.
+ Có mục đích và đề tài rõ ràng.

4. Trại hè.

_ Đương nhiên sẽ tổ chức vào dịp các Đoàn sinh được nghỉ hè, cho nên trại hè có thể kéo dài nhiều ngày.

_ Trại hè cũng là dịp để tổng kết, ôn tập và thực hành những điều đã học trong năm qua.

_ Sự thành công của trại hè là do sự tổ chức, sắp xếp chương trình và duy trì kỷ luật.

5. Trại họp bạn.

_ Nhiều Đoàn – Liên Đoàn ở nhiều nơi, nhiều miền (lớn nhỏ tùy theo qui mô tổ chức) cùng qui tụ về một địa điểm để:

+ Gặp gỡ, kết thân.
+ Trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
+ Báo cáo sự tiến bộ.
+ Thể hiện tình huynh đệ cùng chí hướng.

_ Thường thì mọi đoàn tham dự phải trình diễn mọi trình độ khả năng
sinh hoạt của đơn vị mình trước các Đoàn khác. Đôi lúc sẽ có thi đua để
trắc nghiệm chung cho từng đoàn, từng ngành… và sẽ có thứ hạng trên
dưới. Các đơn vị hãy coi đó là sự chứng minh tiến bộ của mình. Đừng vì
hơn thua mà tự mãn hay thất vọng.

6. Trại huấn luyện.

_ Như tên gọi của nó – Trại huấn luyện do các Toán huấn luyện của một
ngành hay liên ngành tổ chức để đào tạo hoặc hoàn thiện khả năng cầm
Đoàn của các Trưởng trẻ. Tùy theo từng đẳng cấp và đề tài. Trại có thể
kéo dài nhiều ngày. Những trại này sau khi bãi trại (mãn khóa) những
trại sinh trúng cách, sẽ được xét duyệt để được chứng chỉ.

Lịch sử Hướng Đạo Việt Nam

Tháng Mười 25, 2009 lúc 11:42 chiều | Posted in Lịch sử phong trào. | Để lại bình luận
Nhiều người nhiệt thành đã mô tả Hướng Đạo như một cuộc cách mạng giáo dục.

Không phải thế, Hướng Đạo chỉ là một gợi ý được táo bạo tung ra để gây một lối giải trí vui thích
ngoài trời, và cũng được coi là một cách giúp đỡ thiết thực cho giáo dục.

Hướng Đạo có thể được
dùng
để bổ khuyết cho sự huấn luyện của học đường, có thể lấp được những lỗ
hổng không thể tránh nổi trong chương trình học chính thông thường.


Tóm lại, Hướng Đạo là một trường
đào tạo công dân bằng cuộc sống Rừng

.

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ PHONG TRÀO HƯỚNG ĐẠO VIỆT NAM

1925                _ Phong trào HĐ đã xuất hiện thử nghiệm ở Bắc kỳ.

1929                _ Đơn vị Thiếu niên Việt Nam đầu tiên hoạt động tại TH Alber Sarraut Hà nội do trưởng Vũ Ngọc Tân.

1930                _ Trưởng Trần Văn Khắc thành lập Đoàn Lê Lợi, đơn vị Hướng Đạo đầu tiên tại Hà Nội.

1931                _ Trưởng Hoàng Đạo Thúy thành lập ngành Ấu.

1932                _ Trưởng Trần Văn Khắc vào Nam thành lập Tổng cục Hướng Đạo Nam kỳ.

1935                _ Trưởng Võ Thành Minh lập ở Trung kỳ.

                        _ Trại họp bạn toàn quốc đầu tiên Huynh đệ tại Sài Gòn với 500 trại sinh.

1936                _ Thiết lập trại trường Tùng nguyên Đà Lạt, huấn luyện huynh trưởng.

                        _ Huy hiệu chính thức của HĐVN được công nhận cho đến nay.

1937                _ Lập trại trường Bạch mã Huế, nhiều Trưởng ưu tứu của HĐVN được nhận Huy hiệu rừng.

                        _ Thành lập Liên hội Hướng Đạo Đông Dương.

1940                _ Trại họp bạn Rừng Sặt tại Bắc Ninh (Bắc Việt). Kỷ niệm 10 năm HĐVN.

1941                _ Họp bạn Đông Dương (Bắc, Trung, Nam, Ai Lao và Cao Miên) tại Bắc Việt.

                        _ Trại họp bạn Quảng Tế tại Huế.

1942                _ Trò chơi toàn quốc “Hỏa bài”.

                        _ Họp bạn Tráng sinh Hoa Lư.

8/1/1944          _ Trại họp bạn Tráng sinh tại Qua Châu & Bảy Miểu.

1945                _ Lập Hội HĐVN (sát nhập 3 hội Bắc, Trung, Nam) nhưng chưa hoạt động cụ thể.

7/2/1946          _ Bản “Quy trình nội lệ” lần I được chính phủ VNDCCH phê chuẩn.

31/5/1946        _ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm Hội trưởng danh dự.

19/2/1946        _ Vì tình trạng chiến tranh và phân hóa nhiều đơn vị tan rã, sinh hoạt của Hội HĐVN bị ngừng trệ.

1947                _ HĐVN dự Họp bạn Thế giới lần thứ 6 tại Moisson (Pháp).

1948                _ Các Liên đoàn bắt đầu sinh hoạt tại Sài Gòn, Gia định, Chợ lớn.

1950                _ Nỗ lực hồi sinh Hội HĐVN tại Hà Nội.

                        _ Ba miền đều có đơn vị hoạt động.

1952                _ Hội nghị toàn quốc tại Huế.

9/2/1953          _ Bản quy trình nội lệ lần II được phê chuẩn.

8/1953             _ Họp bạn huynh trưởng toàn quốc tại trại trường Tùng nguyên ĐaLat.

1954                _ Trụ sở của Hội HĐVN được dời vào Sài Gòn sau hiệp định Geneve.

1955                _ Trại Dự bị Tráng tại Tùng Nguyên (Đà Lạt).

8/1956             _ Trại trường Hồi Nguyên (Bảo Lộc) khai giảng các khóa Dự bị Ấu – Thiếu – Tráng.

4/1957             _ Hội Nữ HĐVN được thành lập.

7/5/1957          _ Hội HĐVN được nhận làm hội viên chính thức.

1958                _ Trại trường Tùng Nguyên khai giảng khóa HHR Tráng đầu tiên.

1959                _ HĐVN tham dự Họp bạn Thế giới lần thứ 10 tại Makiling (Philippines).

12/1959           _ Trại họp bạn Quốc gia Phục Hưng tại Trảng Bom với 2500 trại sinh.

1966                _ Hội Nữ HĐVN được nhận làm hội viên chính thức của tổ chức HĐTG.

8/1969             _ Hội nghị Huynh trưởng đầu tiên tại Vũng Tàu.

1969                _ Họp bạn Tráng Sinh tại Đà Lạt.

1970                _ Trại họp bạn Quốc gia tại Suối Tiên (Thủ Đức) kỷ niệm 40 năm HĐVN.

1971                _ HĐVN tham dự Họp bạn Thế giới lần thứ 13 tại Nhật bản.

1974                _ Trại họp bạn Quốc gia Tự Lực tại Tam Bình – Gia Định.

30/4/1975        _ Đất nước thống nhất, Hội HĐVN ngưng hoạt động lần hai.

1990                _ Một số Huynh trưởng và Tráng sinh nhen nhúm lại “Cộng đồng Tráng Gia định”

1993                _ Các đơn vị Liên Đoàn hồi sinh tại Sài Gòn cho đến nay.

Lịch sử cụ BP

Tháng Mười 25, 2009 lúc 11:21 chiều | Posted in Lịch sử phong trào. | Để lại bình luận

                                                        B P                                                          Olave Baden-Powell

_ Robert Stephenson Smith Baden-Powell (tên thân
mật trong Hướng Đạo là BP) sinh ngày 22/2/1857 tại London, Anh – mất
ngày 8/1/1941 tại Nyeri, Kenya – thọ 83 tuổi.

_ Nam tước Baden-Powell từng làm trung tướng trong Quân đội Anh, nhà văn và đặc biệt là người sáng lập ra phong trào Hướng đạo Thế giới.
Sau khi tốt nghiệp Charterhouse School, Baden-Powell nhập ngũ Anh vào
1876 và được đưa sang Ấn Độ và Châu Phi. Ông còn phục vụ 3 năm trong Sở
Mật vụ Anh. Vào 1899, giữa cuộc chiến tranh chống người Boer ở Nam Phi,
Baden-Powell đã phòng thủ thành công ở thành Mafeking. Ông xuất ngũ năm
1910.

_ Baden-Powell là một hoạ
sĩ và tác giả có nhiều tác phẩm. Một vài quyển sách dùng trong quân đội
của ông, viết về do thám và trinh sát, được nhiều thiếu niên tìm đọc.
Dựa vào những quyển trứơc, ông viết “Hướng đạo cho trẻ em", xuất bản năm 1908.
Trong thời gian viết, ông kiểm tra ý tưởng của mình qua việc tổ chức
một kỳ cắm trại trên đảo Brownsea vào 1907. Buổi cắm trại được xem như
mở đầu của phong trào Hướng đạo thế giới. Sau khi kết
hôn với Olave St Clair Soames, ông bà và chị của ông, Agnes
Baden-Powell đã cống hiến hết mình để phát triển phong trào Hướng đạo
thế giới
.

*Thuở thiếu thời.

_Robert
Baden-Powell được sinh ra ở số 9 đường Stanhope, phố Paddington ở
London vào năm 1857. Ông là người con trai thứ 7 trong gia đình có 8
con trai trong 10 đứa con kể từ cuộc hôn nhân thứ ba của Reverend
Baden-Powell (22/08/1796 – 11/16/1860), một giáo sư người Savilian dạy
hình học ở Đại học Oxford. Ba của ông mất từ lúc ông lên 3 tuổi, và như
để tưởng tới người cha quá cố, họ của ông đổi từ Powell thành
Baden-Powell. Ông lớn lên trong vòng tay của mẹ, bà Henrietta Grace
Powell (họ trước khi kết hôn là Smyth) (3/9/1824 – 13/10/1914). Bà vốn
là một người phụ nữ mạnh mẽ và có quyết tâm làm cho các con của bà
thành công sau này. Baden-Powell nói về bà năm 1933: “Mọi bí mật trong
sự trưởng thành của tôi đều nằm ở bà.”

Sau
khi học trường trung học Rose, Tunbridge Wells, Baden-Powell nhận được
học bổng vào Charterhouse, một đại học công cộng danh tiếng. Lần đầu
ông được biết tới các kỹ năng hướng đạo là trong những lần trốn học
chơi đuổi bắt và nấu ăn trong khu rừng gần trường mặc dù điều đó là vi
phạm nghiêm trọng nội quy nhà trường. Ông cũng chơi piano và violon,
diễn kịch. Những ngày lễ là những cuộc thám hiểm bằng thuyền và canô
chung với anh em của ông.

Vào 1876, Baden-Powell tham gia binh đoàn Hussars 13 ở Ấn Độ.

*Sự nghiệp trong quân đội.

_ Năm 1876, Baden-Powell gia nhập binh đoàn Hussars thứ 13 ở Ấn Độ. Ông rèn luyện kỹ năng hướng đạo của mình trong bộ lạc người Zulu vào đầu thập niên 1880 ở tỉnh Natal, Nam Phi. Những kỹ năng của ông đã làm cấp trên ấn tượng và chuyển ông sang Sở Mật vụ Anh.

_
Baden-Powell làm việc cho trụ sở ở Địa Trung Hải trong 3 năm. Ông
thường xuyên giả trang thành người sưu tập bướm, giấu những tài liệu
quân sự mật trong các bộ sưu tập bướm của mình. Sau đó, ông đã lãnh đạo
thành công một chiến dịch quân sự ở Ashanti. Năm ông 40 tuổi, ông được
thăng chức làm trưởng đội kỵ binh số 5 vào năm 1897 ở Ấn Độ. Vài năm
sau ông viết một quyển sách: “Aids to Scouting”, một bảng tổng hợp
những bài viết về hướng đạo trong quân đội, dùng để huấn luyện tân
sinh. Nhờ vào quyển này và một số phương pháp khác, ông đã có thể giúp
họ suy nghĩ độc lập, thực hành ý kiến của mình và sinh tồn nơi hoang dã.

_
Ông trở về Nam Phi vào giữa Chiến tranh Boer lần thứ hai. Nhiệm vụ của
ông là đánh trả người Zulu. Bấy giờ ông đã là đại tá trẻ nhất trong
quân đội Anh. Ông chịu trách nhiệm tổ chức một nhóm người địa phương để
hỗ trợ tiền tuyến. Trong lúc đó, ông bị bao vây ở thành Mafeking bởi
8000 người Boer. Mặc dù bị thiệt thòi về quân số, thành Mafeking đã
đứng vững trong 217 ngày. Những bãi mìn giả được dựng lên và quân của
ông được lệnh phải giả bộ đi tránh hàng rào kẽm gai xung quanh thành.
Baden-Powell đã gần như tự làm công việc trinh sát.

_
Trong cuộc vây hãm đó, một nhóm các thiếu niên chưa đến tuổi quân ngũ
đã được sử dụng để canh gác, liên lạc, cứu thương và nhiều thứ khác
nữa, giải phóng những người lớn khác ra tiền tuyến
. Mặc dù
Baden-Powell đã không lập ra nhóm thiếu niên này, và cũng chẳng có bằng
chứng nào cho thấy ông chú ý đến nhóm này, ông đã thật sự ấn tượng
trước lòng quả cảm và sự điềm tĩnh của họ trên chiến trường. Do đó ông dùng hình ảnh những thiếu niên đó làm tấm gương sáng trong chương đầu tiên của “Scouting for Boys”. Cuộc
vây hãm thành Mafeking kết thúc vào 16 tháng 5 năm 1900. Sau khi được
thăng chức trung tướng, Baden-Powell trở thành người hùng dân tộc
. Sau khi thành lập Sở Cảnh sát Nam Phi, ông trở về Anh làm thanh tra của kỵ binh vào 1903.

_
Mặc dù ông có cơ hội rất cao làm Tổng tư lệnh nhưng Baden-Powell quyết
định giải ngũ vào 1910 với chức Trung tướng theo lời khuyên của vua
Edward VII. Edward VII cho rằng Baden-Powell có thể phụng sự đất nước
nhiều hơn bằng cách phát triển phong trào hướng đạo.

_
Trong cơn bùng phát của Thế chiến thứ hai năm 1914, Baden-Powell tự rời
khỏi Bộ Chiến tranh. Lord Kitchener nhận xét: “Ông có thể giao lại
nhiệm vụ của ông cho nhiều người khác thích hợp nhưng không có ai có
thể thay thế ông trong những quyển sách Hướng đạo vô giá”.

*Cuộc sống gia đình.

Gia đình cụ BP

_ Vào tháng 1 năm 1912, Baden-Powell gặp một người phụ nữ có khả năng làm người vợ tương lai của ông, Olave St Clair Soames,
khi ông đang trên tàu Arcadia để tới New York để truyền bá Hướng đạo.
Lúc đó Olave chỉ mới 23 tuổi còn Baden-Powell thì những 55 tuy rằng họ có cùng ngày sinh.
Đó không phải là một độ tuổi thích hợp cho hôn nhân thời đó. Họ đính
hôn vào tháng 9 cùng năm và trở thành một đề tài cho báo chí vì sự nổi
tiếng của Baden-Powell. Để tránh sự phiền toái của báo chí, họ tổ chức
kết hôn trong bí mật vào ngày 30 tháng 10 năm 1912. Mỗi hướng đạo sinh
Anh đóng góp 1 xu để mua quà cưới cho Baden-Powell: một chiếc xe hơi.

_
Baden-Powell là bạn của Juliette Gordon Low, người sáng lập Hội nữ
Hướng đạo Mỹ và đã động viên cô đi truyền bá Hướng đạo khắp nước Mỹ.

_
Baden-Powell và Olave sống ở Pax Hill từ 1919 tới 1939. Ngay sau khi
kết hôn, Baden-Powell đã phải đối mặt với những vấn đề về sức khoẻ. Ông
bị chứng đau đầu dai dẳng, mà theo bác sĩ là bệnh thần kinh và chữa trị
bằng dream analysis. Cơn đau đầu giảm dần sau khi Baden-Powell đổi sang phòng ngủ tạm thời ngoài ban công. Năm 1934, tình trạng này chấm dứt. Năm 1939, ông sống ở Kenya trong căn nhà hồi trước ông làm việc để dưỡng sức. Ông mất vào ngày 8 tháng 1 năm 1941 và được chôn ở Nyeri, Kenya gần núi Kenya. Tấm bia trên mộ ông có hình một vòng tròn và một dấu chấm ở giữa mang ý nghĩa “đã về nhà”.

_ Khi
vợ ông, bà Olave, mất, tro của bà được gửi đến để chôn kế bên chồng bà
ở Kenya. Chính phủ Kenya đã công nhận mộ Baden-Powell như một di tích
lịch sử.

_ Baden-Powell có 3 người con: 1 trai và 2 gái.

*Người sáng lập Hướng đạo.

_
Trong chuyến trở về từ châu Phi, Baden-Powell nhận ra quyển sách huấn
luyện quân đội của ông, Aids to Scouting đã trở thành 1 trong những
quyển bán chạy nhất thời đó và đang được sử dụng rộng rãi trong nhà
trường và các tổ chức đoàn thể. Sau 1 cuộc gặp với trưởng Lữ đoàn Tuổi
trẻ, Sir William Alexander Smith, Baden-Powell đã quyết định viết lại
quyển Aids to Scouting cho phù hợp hơn với thiếu niên. Năm
1907 ông tổ chức buổi đi trại đầu tiên cho 20 thiếu niên từ nhiều tầng
lớp xã hội để kiểm nghiệm tính thực tiễn của ý tưởng mình
. Baden-Powell cũng chịu ảnh hưởng lớn từ Ernest Tompson Seton, người sáng lập Hội thủ công người Da Đỏ khi họ gặp nhau năm 1906.
"Scouting for Boys" sau đó được in những 6 lần chỉ riêng trong năm
1908. Nhiều thiếu niên cả nam và nữ tự động thành lập những đội Hướng
đạo và phong trào Hướng đạo phát triển mạnh mẽ, bắt đầu từ 1 quốc gia
rồi lan ra bao trùm cả thế giới. Phong trào Hướng đạo từng phát triển
song song với Lữ đoàn Tuổi trẻ. Một đại hội
Hướng đạo sinh được tổ chức ở London năm 1909, chính tại đây
Baden-Powell thấy người nữ hướng đạo sinh đầu tiên. Phong trào Hướng
đạo Nữ được thành lập năm sau đó(1910) dưới sự bảo hộ của chị
Baden-Powell, bà Agnes Baden-Powell.

_
Năm 1920, Đại hội Jamboree của Hướng đạo lần đầu được tổ chức ở Olympia
và Baden-Powell được tôn làm Thủ lĩnh Hướng đạo Thế giới. Ông được
phong chức Nam tước xứ Gilwell vào ngày 17/09/1929. Công viên Gilwell
Park trở thành nơi huấn luyện Trưởng Hướng đạo của thế giới.

Năm
1929, giữa Đại hội Jamboree của Hướng đạo lần 3, ông nhận được 2 món
quà: 1 chiếc Rolls-Royce và 1 nhà trên xe hiệu Eccles Caravan. 2 chiếc
xe này là thành quả của tiền tiết kiệm hàng triệu hướng đạo sinh trên
thế giới. Chúng đã giúp đỡ Baden-Powell rất nhiều trong những chuyến đi
Châu Âu sau này.

Nhờ vào sự cố
gắng của ông, tới năm 1922 đã có trên 1triệu hướng đạo sinh ở 32 quốc
gia, năm 1939 là 3.3 triệu và hiện giờ là hơn 300 triệu.

Tóm lược lịch sử phong trào Hướng Đạo Thế giới.

Tháng Mười 25, 2009 lúc 10:27 chiều | Posted in Lịch sử phong trào. | Để lại bình luận
1-9/8/1907          _ Baden Powell (BP)
cùng 20 trẻ em, lần đầu tiên BP dẫn các em đến cắm trại tại một hải đảo
nhỏ tên là BrownSea. Ngành Thiếu từ 12-17 tuổi (độ tuổi tại thời điểm đó) được thành lập.

Đảo BrownSea

20 Hướng đạo sinh đầu tiên trên trên Thế Giới

1908               
_ BP cho xuất bản cuốn Scouting for Boys (Hướng Đạo cho trẻ em).Các
Thiếu đoàn Hướng Đạo được thành lập khắp nước Anh, rồi qua Chile rồi
lan khắp Thế giới.

Nguyên bản Scouting For Boys




1910                _ Nữ HĐ và HĐ miền biển được thành lập ở Anh.


Các nữ HĐS đầu tiên trên Thế Giới.

1916                _ Ngành Sói (Ấu) được chính thức coi là một ngành của phong trào từ 7-11 tuổi.

Các sói con đầu tiên trên Thế Giới.

1917               
_ BP xuất bản cuốn “Senior Scouts : Organisation Activities, Badge
Subject & General Role” cho các đội Kha nằm trong Thiếu đoàn, là
tài liệu căn bản của ngành Kha ngày nay.



1918                _ Ngành Tráng được thành lập từ 18-25 tuổi.

1919               
_ Ông We. De Bois Wae Laren tặng đất Gilwell Park (gần Luân Đôn) làm
nơi cắm trại và trung tâm để huấn luyện cho các Trưởng.


1920                _ Họp bạn lần thứ I ở Olympia (Luân Đôn) có 21 Quốc
gia tham dự
. BP được tôn làm thủ lãnh HĐTG (Hội nghị HĐTG năm 1947
quyết định không ai kế tục BP trong chức vụ này: Chief Scout of
world).Thành lập văn phòng HĐTG tại Anh. Hội nghị HĐTG lần I, có 33
nước thành viên tham dự.


Jamboree lần đầu tiên -1920.

1922                _ Hội nghị HĐTG  làn II bầu ra BQT/HĐTG nhiệm kỳ I.

1928                _ Ấu đoàn, Thiếu đoàn, Tráng đoàn được phép liên hợp thành Liên đoàn.

1937                _ Họp bạn TG lần V tại Vogenlenzang – Hà Lan có 54 nước và 28.750 trại sinh.

_ Thông lệ cứ 4 năm Họp bạn HĐTG một lần, nhưng vì Thế chiến thứ II phải gián đoạn đến 10 năm, tức 1947 mới có Họp bạn HĐTG lần VI tại Moisson – Pháp.

8/1/1941            _ BP qua đời tại Kenya. Bp sinh ngày 22/2/1857 tại một căn nhà gần công viên Hyde Park ở Luân Đôn.

Bia mộ cụ B.P tại Kenya.

1946
               _ Ngành Kha ra đời, có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo
mỗi nước. Anh: Senior, Mỹ: Explorer, Canada-Úc-Tân Tây Lan: Venturer,
Hà Lan: Rowan, Pháp: Raider.

Các Kha sinh thời sơ khai.

1958                _ Văn phòng HĐTG dời qua Ottawa ( Canada)

1968                _ Văn phòng HĐTG dời qua Geneve-Thụy Sĩ cho đến nay.

Văn phòng Hướng Đạo Thế giới hiện nay.

15/11/1975
         _ Canada chính thức thành lập ngành Nhi từ 5-7 tuổi gọi là
Beaver, hiện nay chiếm 60% tổng số đoàn sinh của Canada.

1975                _ Họp bạn HĐTG 14 tại Nauy.

1979                _ Năm Họp bạn HĐTG giao lưu toàn cầu ( năm này HB
HĐTG 15 dự định tổ chức tại Iran bị hủy bỏ, đến năm 1983 HB HĐTG 15
được tổ chức tại Alberta – Canade)

1988                _ HB HDTG 16 tại Úc.
1991                _ HB HDTG 17 tại Hàn Quốc.
1995                _ HB HDTG 18 tại Hà Lan.
1998                _ HB HDTG 19 tại Chile.
2003                _ HB HDTG 20 tại Thái Lan.

2007               
_ Tại Brownsea Island là vùng đất hứa của trại HB HDTG kỷ niệm 100 năm
phong trào HDTG, do hội HĐ Anh chủ trì.

Đồng phục – Huy hiệu – Băng danh dự

Tháng Chín 14, 2009 lúc 2:14 chiều | Posted in Nghi thức | Để lại bình luận
ĐỒNG PHỤC – HUY HIỆU – BĂNG DANH DỰ


I. ĐỒNG PHỤC:

1. Nón:

  • Béret: màu đen.
  • Casquette: màu huyết dụ.
  • Calot: màu kaki của áo. Vành nón viền một đường nhỏ (#2mm) màu huyết dụ.C

– Có thể dùng một trong ba loại nón trên, nhưng phải đồng nhất trong một Kha đoàn.
– Nón béret và calot đội lệch sang phải. Kha sinh thường xuyên thám du, trại và công tác phục vụ ở ngoài trời nên cần có nón để che nắng mưa, bảo vệ đầu.
– Nón làm cho đồng phục thêm hấp dẫn và Kha sinh trở nên lịch sự hơn.

2. Áo:
Áo chemise tay ngắn, màu kaki có cổ gài nút, nhưng không có “ve”, có cầu vai, hai túi áo có nắp và có sống giữa.

3. Quần:
Có 2 loại: quần ngắn (váy ngắn) và quần dài.

  • Quần ngắn:
– Nam: quần ngắn trên đầu gối 6cm (bằng bề rộng của 3 ngón tay). Màu xanh đen hay màu kaki, 2 túi hai bên hông, 2 túi sau có nắp và có sống giữa.  Đai nịt lớn, chắc.
– Nữ: jupe culotte (váy ngắn hai ống, trên đầu gối 6cm), màu xanh đen hay màu kaki. Mặc khi sinh hoạt ngoài trời.
  • Quần dài:

– Màu xanh đen hay màu kaki. Túi như quần ngắn. Mặc trong các dịp lễ hội, tiếp tân khác cho cả nam và nữ. Phải đồng nhất trong một Kha đoàn.

4. Lễ phục:

  • Nam: quần dài và áo chemise tay dài màu kaki.
  • Nữ: jupe midi (váy lửng, dưới đầu gối 6cm), màu xanh đen, áo chemise tay dài màu kaki. Tùy khả năng của từng Kha đoàn.

5. Nịt, giày, vớ (bít tất):

  • Nịt da, bố màu đen hay nâu.
  • Giày vải cao cổ màu đen hay nâu dùng trong sinh hoạt. Giày da thấp cổ, màu đen hay nâu khi mặc lễ phục.
  • Khi mặc quần ngắn, vớ cao qua khỏi bắp chân, cách gối 10cm màu kaki (beige).

– Đoàn sinh thêm một khoanh màu huyết dụ ở cổ vớ.
– Huynh trưởng hai khoanh.

6. Khăn quàng:
– Bằng vải màu huyết dụ, hình tam giác vuông cân, cạnh dài từ 50 đến 80cm tùy theo trạc người, ở góc vuông đính huy hiệu Kha màu trắng không viền.
– Khi mặc lễ phục, Kha sinh mang caravatte màu huyết dụ.

7. Gậy:
– Kha sinh sử dụng gậy 1,2m trong những lần thám du, trại …
– Đối với những Kha sinh khéo tay, gậy là một tác phẩm điêu khắc, một kỷ vật.

* ĐỒNG PHỤC TRƯỞNG GIỐNG ĐỒNG PHỤC KHA SINH

II. HUY HIỆU:




2. Huy hiệu Kha:

– Là huy hiệu đã được chấp thuận trong Hội nghị Huynh Trưởng năm 1965, có tính lịch sử của Ngành.
– Huy hiệu Kha nội tiếp trong một hình vuông đứng (hình thoi vuông) chéo 40x40cm, nền màu huyết dụ, chữ (khả) và khung chữ nhật có 4 mũi tên ở 4 cạnh, màu trắng.
– Huy hiệu Kha được dệt trên vải và dập bằng kim khí. Huy hiệu kim khí cỡ nhở đính vào áo khi Kha sinh mặc thường phục. Cỡ lớn được dệt bằng vải hoặc dập bằng kim khí đính ở khăn quàng và nón (mũ).


3. Băng Đoàn – Huy hiệu Đạo (Liên đoàn):
  • Băng đoàn: Có hình cong, là một phần của mình vành khăn, chiều dài cung từ 6 – 8cm, chiều rộng = R – r = 2cm. Nền xanh đen, tên Đoàn viết bằng chữ in hoa và viền màu vàng hoàng yến, Đính ở bên vai phải, gần cầu vai.
  • Huy hiệu Đạo: thường có hình chữ nhật đứng:
    – Bề ngang không quá 4cm.
    – Bề đứng không quá 6cm.
    – Không sử dụng quá 3 màu.
    – Được Bộ Tổng Ủy Viên chấp nhận.

4. Cấp hiệu:
a. Cấp hiệu Kha sinh.
– Kha sinh chính thức nhập Kha Đoàn được gắn 2 khâu vải huyết dụ ở hai cầu vai, rông 54mm, lồng được vào cầu vai.
– Cấp bậc Kha sinh là gạch ngang màu trắng, rộng 8mm.

  • Tuần phó: 1 vạch màu trắng, nằm giữa khâu cách 2 đầu khâu 23mm.
  • Tuần trưởng: 2 vạch màu trắng cách nhau 8mm, cách 2 đầu khâu 15mm.
  • Chánh tuần trưởng: 3 vạch màu trắng cách nhau 5mm, cách 2 đầu khâu 10mm.

*Khi mặc lễ phục, cấp hiệu được thể hiện trên kẹp cài cravatte.


b. Cấp hiệu Trưởng:
– Cấp hiệu Kha trưởng là huy hiệu Hướng đạo bằng kim khí có túm lông màu huyết dụ, đính bên trái nón. Hai khâu huyết dụ lồng vào cầu vai rộng 54mm, trên có hoa huệ và nút caric.

– Cấp hiệu Kha phó và các trưởng phụ tá tương tự cấp hiệu Kha trưởng nhưng giữa túm lông có một vạch nâu, và ở hai khâu huyết dụ là nút dẹt thay cho nút caric.

 
5. Đẳng hiệu:
– Ngành Kha có 3 đẳng hiệu:  THUẦN KHAKHA TIỀN PHONGKHA NGHĨA SĨ
  • Thuần Kha: Hình vuông 6x6cm, nền huyết dụ, 4 cung, 4 tên, vòng tròn và hoa huệ ở giữa màu trắng
  • Kha Tiền Phong: Hình tròn nền lục D=6cm, trong đó co hoa huệ vàng hoàng yến, có hình cây đuốc, cán màu huyết dụ, lửa màu đỏ.
  • Kha Nghĩ Sĩ: Hình tròn nền đỏ D=6cm, trong có hoa huệ đen, giữa hoa huệ có kiếm trắng.


6. Chuyên hiệu:
Từ năm 1993, sau  “Hiệp ý ngành Kha” hệ thống chuyên hiệu ngành Kha  gồm 05 loại chuyên hiệu tổng thể
 – Loại I    : Thiên nhiên, Cắm trại – Màu lục.
– Loại II   : Thể lực, Thích ứng – Màu cà rốt.
– Loại III  : Hướng nghiệp – Màu Tím.
– Loại IV  : Phục vụ, Giao tế – Màu xanh.
– Loại V   : Văn hóa, Tín ngưỡng – Màu vàng.

Hình dáng – Quy cỡ – Màu sắc – Mô tả :
Chuyên hiệu tổng thể có hình vuông chéo (hình thoi đứng) Cạnh 44 mm gồm đường viền chuyên hiệu 2 mm, nền hình vuông cạnh 40 mm. Có 5 chuyên hiệu tổng thể, được xếp theo thứ tự và có tên gọi như sau :
Chuyên hiệu loại I  : Thiên nhiên – Cắm trại : Nền màu lục nhạt, đường viền chuyên hiệu và 2 ngọn núi màu lục đậm, 3 cành lá có cùng màu nền (Màu lục nhạt). Màu lục 2 ngọn núi và 3 cành lá được ngăn cách màu nền bằng một viền màu trắng nhỏ.
Chuyên hiệu loại II : Thể lực – Thích ứng : nền màu cà rốt nhạt, đường viền chuyên hiệu và ngọn lửa màu cà rốt đậm. Cán đuốc và 5 vòng tròn thế vận màu nâu.
Chuyên hiệu loại III : Hướng nghiệp : nền màu tím nhạt (tím hoa sim). Đuờng viền chuyên hiệu, đường viền ngòi bút và 2 bánh xe chuyền lực màu tím đậm.
Màu tím 2 bánh xe chuyền lực được ngăn cách màu nền bằng một đường viền màu trắng nhỏ.
Chuyên hiệu loại IV : Phục vụ – Giao tế : nền màu xanh nhạt (xanh da trời). Đường viền chuyên hiệu, kinh tuyến, vĩ tuyến, vòng tròn Địa cầu, tay nắm tay (tất cả) màu xanh đậm. Màu xanh tay nắm tay được ngăn cách màu nền bằng một đường viền màu trắng nhỏ.
Chuyên hiệu loại V : Văn hoá – Tín ngưỡng : nền màu vàng hoàng yến (màu vàng nhạt). Đường viền chuyên hiệu, đèn cầy, đường viền sách màu vàng đậm. Hình tròn màu trắng.
*Lưu ý: Không dùng quá 3 màu trong một chuyên hiệu.
             Chuyên hiệu loại V – Văn hoá – Tín ngưỡng nên đặt ở vị trí trung tâm.
             Chuyên hiệu được gắn ở tay áo phải, dưới huy hiệu Đạo, Liên đoàn (Biệt lập).

Có 3 cách sắp xếp :
*Cách thứ nhất : Xếp theo hình chữ  X
– Chuyên hiệu   I + II nằm trên.
– Chuyên hiệu   III + IV nằm dưới.
– Chuyên hiệu   V nằm trung tâm.
   
*Cách thứ hai : Xếp theo hình  Zigzag
– Ba chuyên hiệu   I + V + IV nằm trên.
– Hai chuyên hiệu   II + III  nắm dưới.
   
*Cách thứ ba : Xếp theo hình chữ  V
– Theo thứ tự  I – II – V – III – IV
– Chuyên hiệu V nằm ở đỉnh chữ V

7. Số tuần:
– Khác với Thiếu sinh đeo tua vai Đội, Kha sinh mang số Tuần. Số Tuần được dệt trên nền vải, hình vuông 40x40mm màu huyết dụ, chữ số La mã: I, II, III, IV màu trắng, theo thứ tự thành lập trước sau.

8. Sao thâm niên:
– Sao 6 cánh bằng kim khí, đính trên một nền tròn bằng nỉ theo màu ngành, đeo trên túi áo bên trái. Hình tròn trong sao có số để chỉ thâm niên.

II. BĂNG DANH DỰ:
– Là một ưu tiên của ngành Kha, băng danh dự được mang trong những dịp đặc biệt như: họp bạn, hội hè, đại lễ. Băng danh dự rộng 12cm bằng vải màu huyết dụ, đeo choàng từ vai trái xuống thắt lưng phải (khoảng 160cm tùy theo trạc người), hai đầu cắt đuôi én.
– Phía trước ngực, từ trên xuống, gắn sao thâm niên, huy hiệu Hướng Đạo, chuyên hiệu có từ Ấu, Thiếu, Kha.

Tiếng reo và Bài ca Nghi lễ

Tháng Chín 14, 2009 lúc 1:44 chiều | Posted in Nghi thức | Để lại bình luận
TIẾNG REO VÀ BÀI CA NGHI LỄ

I. TIẾNG REO:
(Chung cả Hội Hướng đạo Việt nam)
Reo mừng trong những dịp lễ quan trọng.
Tất cả khum người, cầm nón ở tay phải.
Trưởng: DÔ TA
Kha sinh: A DÔ TA
Vung nón lên cao
Lập lại 3 lần.
Cuối cùng tất cả reo to: A. aaa … aa … Tung cao nón lên trời.

II. CÁC BÀI CA NGHI LỄ:
* Hội ca.
* Kha sinh ca (Bài ca chính thức ngành Kha).

Đẳng thứ Kha Nghĩa Sĩ

Tháng Chín 14, 2009 lúc 11:48 sáng | Posted in Đẳng thứ ngành Kha | Để lại bình luận
ĐẲNG THỨ KHA NGHĨA SĨ

KHA NGHĨA SỸ : Là một Kha Tiền Phong ưu tú. Có tinh thần phục vụ và tự rèn luyện rất cao. Có hành động vì kẻ khác quên mình. Xứng đáng là công dân tốt của Tổ Quốc Việt Nam 4000 năm văn hiến.
·    Phục vụ : Tiếp tục phục vụ ở các đơn vị  thêm 6 tháng (tròn 1 năm)
·    Rèn luyện :

Hoàn thành các chuyên hiệu của ngành Kha :
§    Loại I    : Thiên nhiên – Cắm trại.
§    Loại II   : Thể Lực – Thích ứng.
§    Loại III : Hướng nghiệp.
§    Loại IV : Phục vụ.
§    Loại V  : Văn hoá – Xã hội.

Kha Nghĩa Sỹ sẽ nghiên cứu chuyên sâu các năng hiệu còn lại mà mình yêu thích hoặc theo nhu cầu của cộng động để phục vụ xã hội tốt hơn nữa.
Được Hội đồng Luật đề nghị, Lễ tấn phong Kha Nghĩa Sỹ được tổ chức trong dịp lễ, trại của Đạo.

ĐẲNG HIỆU KHA NGHĨA SỸ : Hình tròn nền đỏ, đường kính D = 6 cm, trong có hoa huệ đen, giữa hoa huệ có kiếm trắng. Kha Nghĩa Sỹ là một hiệp sỹ nên phải luôn hy sinh, đem trí tuệ và tình thương phục vụ cộng đồng để ngày thêm thăng hoa hơn.

Đẳng hiệu Kha Nghĩa sỹ gắn ở vị trí Kha Tiền Phong.

Đẳng thứ Kha Tiền Phong

Tháng Chín 14, 2009 lúc 11:43 sáng | Posted in Đẳng thứ ngành Kha | Để lại bình luận
ĐẲNG THỨ KHA TIỀN PHONG

1.    KHA TIỀN PHONG : Là một Thuần Kha vượt trội, có tinh thần phục vụ và rèn luyện cao.

Phục vụ :
·    Phục vụ ở Au đoàn hoặc  Thiếu đoàn trong một thời gian nhất định từ 3 đến 6 tháng với tư cách Bảo huynh.
·    Có tham gia các công tác thiện nguyện ở các trung tâm xã hội, từ thiện trẻ cơ nhỡ, trẻ khuyết tật, các trại cô nhi, trại phong, lớp học tình thương…
·    Có tham gia các công tác cứu trợ thiên tai, dịch hoạ, bảo vệ môi sinh, môi trường.

Rèn luyện :
·    Hoàn thành 2 trong 3 chuyên hiệu tổng thể loại I, II, III.
·    Đạt tối thiểu 1 năng hiệu của chuyên hiệu loại IV : Phục vụ.
·    Được Hội Đồng Luật đề nghị và lễ tấn phong Kha Tiền Phong được tổ chức trong các dịp lễ, trại của Liên đoàn.

2 . ĐẲNG HIỆU KHA TIỀN PHONG : hình tròn nền lục, đường kính D = 6 cm, trong có hoa huệ màu vàng hoàng yến, có hình cây đuốc, cán màu huyết dụ, lửa màu đỏ.

Bốn màu của huy hiệu Kha Tiền Phong tượng trưng cho 4 ngành chính của phong trào Hướng Đạo Việt Nam. Màu đỏ của ngành Tráng, màu huyết dụ của ngành Kha, màu lục của ngành Thiếu và màu vàng của ngành Au.

Kha Tiền Phong phải xứng đáng là Hướng Đạo Sinh của phong trào cậy trông.

Huy hiệu Kha Tiền Phong được gắn trên túi áo phải.

Trang sau »

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.
Entriesphản hồi feeds.